Việt Nam công khai dự trữ ngoại hối: Có gì đáng chú ý?

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Được đăng
Thời gian đọc: 6 phút

Khi công khai con số dự trữ ngoại hối của quốc gia tính đến giữa tháng 6/2026 đạt 87,6 tỷ USD, Ngân hàng Nhà nước cùng lúc muốn sửa đổi một số quy định được coi là vướng mắc.

Đã một thời gian khá lâu, kể từ năm 2022, dự trữ ngoại hối dường như không được nhắc đến trong các văn bản của cơ quan nhà nước.

Điều đó cho thấy một khoảng trống khá lớn, nhưng những người thạo tin vẫn truyền tai nhau con số dự trữ ngoại hối của quốc gia xoay quanh mức 80 tỷ USD.

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước công bố mới cho thấy mức dự trữ ngoại hối hiện tại thấp hơn 24,2 tỷ USD so với tháng 1/2022, thời điểm được ghi nhận là đỉnh của dự trữ ngoại hối.

Đó là một mức giảm đáng kể, lên đến khoảng 21,6%.

Con số này được Ngân hàng Nhà nước công khai trong Dự thảo Báo cáo tổng kết thi hành Nghị định 50/2014/NĐ-CP về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước.

Vậy có điều gì khiến cho dự trữ ngoại hối, một thước đo quan trọng trong vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô của quốc gia, trong thời gian qua, trở nên trồi sụt?

Biến động mạnh nhất là vào năm 2022, thời điểm chứng kiến sự sụt giảm rất lớn đối với biến số vĩ mô này.

Vào đầu năm 2022, dự trữ ngoại hối đạt 111,8 tỷ USD, con số cao nhất cho đến nay trong lịch sử.

Tuy nhiên, đến cuối năm đó, lượng ngoại tệ dự trữ chỉ còn lại 86,7 tỷ USD.

Điều đó có nghĩa là, chỉ trong 12 tháng, mức chênh lệch của dự trữ ngoại hối Việt Nam đã lên đến hơn 25 tỷ USD.

Vì sao lại có mức chênh lệch lớn như vậy?

Ngân hàng Nhà nước giải thích rằng bối cảnh thị trường tài chính quốc tế "biến động mạnh" từ đầu năm 2022.

Cụ thể, Ngân hàng Trung ương Mỹ (FED) đã liên tục tăng lãi suất, cộng thêm tác động từ Đại dịch Covid-19, cũng như chiến sự Nga-Ukraine, dẫn đến chuỗi cung ứng đứt gãy, giá năng lượng tăng cao.

Tất cả những yếu tố này, đã gây áp lực lên tỉ giá, khiến cho cơ quan quản lý phải "sử dụng dự trữ ngoại hối để can thiệp" nhằm "ổn định thị trường".

Chỉ riêng năm 2022, FED đã tăng lãi suất đồng USD tổng cộng bảy đợt, khiến cho lãi suất đồng đô la Mỹ từ 0% - 0,25% lên mức 4,25% - 4,5%/năm.

Động thái tăng lãi suất của FED khiến ngân hàng trung ương các nền kinh tế trên thế giới cũng chạy đua nâng lãi suất.

Việt Nam, trong thời điểm đó lại ở một thái cực khác: tung ra gói hỗ trợ và phục hồi kinh tế hậu đại dịch.

Kể từ đầu năm 2020 cho đến cuối năm 2011, khi khi dịch Covid-19 xảy ra, Ngân hàng Nhà nước đã ba lần hạ lãi suất điều hành để hỗ trợ thị trường.

Cơ quan quản lý cũng kêu gọi các ngân hàng thương mại giảm lãi suất.

Vào đầu năm 2022, trước làn sóng tăng lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới, Thống đốc khi đó là bà Nguyễn Thị Hồng vẫn tuyên bố chủ trương giữ nguyên lãi suất.

Tuy nhiên, khi FED liên tục tăng lãi suất, đồng USD mạnh lên, và dòng vốn bắt đầu tháo chạy khỏi các thị trường mới nổi chạy về Mỹ.

Điều đó khiến cho nhu cầu USD ở các quốc gia như Việt Nam tăng lên, gây áp lực lên tỉ giá với đồng nội tệ.

Để bình ổn thị trường ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước đã phải liên tục bán USD ra can thiệp.

Hơn 20 tỷ USD can thiệp thị trường để cứu tỉ giá, nhưng điều đó chưa đủ.

Xu hướng tăng lãi suất của FED và các ngân hàng trung ương châu Âu hay Anh vẫn dường như chưa dừng lại.

Điều đó khiến cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phải quay xe chính sách khi buộc phải tăng lãi suất điều hành, một lần vào tháng 9, và một vào tháng 10, mỗi lần tăng 1 điểm phần trăm.

Kết thúc năm 2022, đồng VND của Việt Nam đã mất giá 3,56% so với USD theo tính toán của Ngân hàng Nhà nước.

Dự trữ ngoại hối cũng mất 25,1 tỷ USD năm đó, về còn 86,7 tỷ USD.

Áp lực tỉ giá

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Theo cơ quan quản lý chính sách tiền tệ, dự trữ ngoại hối của Việt Nam trải qua ba giai đoạn.

Đầu tiên là thời điểm cuối năm 2014 khi dự trữ ngoại hối của Việt Nam đạt con số 34,3 tỷ USD.

Giai đoạn tiếp theo là từ 2014 đến đầu năm 2022, Ngân hàng Nhà nước đã liên tục mua vào số lượng lớn ngoại tệ, cộng với bối cảnh kinh tế thuận lợi, vì thế trong bảy năm, dự trữ ngoại hối quốc gia có thêm 77,5 tỷ USD, đạt đỉnh vào đầu năm 2022.

Giai đoạn thứ ba là chiều hướng đi xuống vì những biến động trong năm 2022, với việc dự trữ ngoại hối ghi nhận mức giảm mạnh, và "duy trì ổn tương đối ổn định" quanh con số 87 tỷ USD.

Vậy con số này là nhiều hay ít?

Vào năm 2021, Việt Nam nhập khẩu lượng hàng hóa trị giá 332,8 tỉ USD, dự trữ ngoại hối khi đó khoảng 110 tỷ USD.

Đến năm 2025, Việt Nam nhập khẩu vượt mức 455 tỷ USD, tức tăng gần 40% so với 4 năm trước.

Tuy nhiên, dự trữ ngoại hối lại giảm một cách đáng kể.

Điều đó có nghĩa là dự trữ ngoại hối trước đây tương đương khoảng 4 tháng nhập khẩu, đã rớt về con số chỉ còn khoảng 2 tháng nhập khẩu.

Trên trang Facebook cá nhân, Phó giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thế Anh từ Đại học Kinh tế Quốc dân ước tính giá trị nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2026 sẽ vượt 500 tỷ USD và đánh giá rằng mức dự trữ ngoại hối chưa đầy 88 tỷ USD này, "tương đương chưa đến 2 tháng hay 8 tuần nhập khẩu hàng hóa – bằng đúng ngưỡng cảnh báo của IMF".

Dự trữ ngoại hối được coi là một yếu tố quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ, ổn định tỷ giá và ổn định vĩ mô.

Được coi là một "tấm đệm" cho nền kinh tế, dự trữ ngoại hối đóng vai trò thiết yếu trong đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế, đáp ứng nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, hỗ trợ tỷ giá khi thị trường biến động, bảo đảm thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Dự trữ ngoại hối của một quốc gia được hình thành từ nhiều nguồn, trong đó có lượng ngoại tệ Ngân hàng Nhà nước mua từ thị trường.

Nguồn ngoại tệ này có thể bắt nguồn từ xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, du lịch, kiều hối và các dòng ngoại tệ khác chảy vào nền kinh tế.

Khuyến nghị của IMF là một quốc gia cần duy trì dự trữ ngoại hối ở mức tối thiểu 3 tháng nhập khẩu. Ở các quốc gia đang phát triển, có độ mở thương mại lớn, con số này cần lớn hơn, ở mức 4 đến 5 tháng nhập khẩu, để bảo đảm an toàn trước các biến động hay cú sốc kinh tế.

Việt Nam là quốc gia đang phát triển, và có độ mở của nền kinh tế trong hai năm qua, 2024 và 2025, ở mức 170% GDP, theo tính toán của Bộ Tài chính.

Độ mở này càng lớn, rủi ro bị tác động tiêu cực từ các cú sốc hay biến động kinh tế thế giới từ chuỗi cung ứng bị đứt gãy, biến động tỷ giá, chiến tranh thuế quan… càng khó lường.

Việc thiếu ngoại tệ trong thanh toán sẽ gây áp lực lên tỷ giá rất lớn, đặc biệt là xuất khẩu phụ thuộc vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).