Sửa đổi Bộ luật Hình sự: Cơ hội để nhổ tận gốc những điều luật đang bị lạm dụng

Nguồn hình ảnh, Getty Images
- Tác giả, LS Phùng Thanh Sơn
- Vai trò, Gửi tới BBC News Tiếng Việt từ TP HCM
- Được đăng
- Thời gian đọc: 12 phút
Hệ thống hình sự Việt Nam đang tồn tại một nhóm điều luật được xây dựng chỉ hoàn toàn bằng tiêu chí định tính, không có bất kỳ ngưỡng định lượng nào để xác định khi nào một hành vi vượt qua ranh giới từ vi phạm hành chính sang tội phạm hình sự.
Đây không phải là vấn đề chính trị cũng không phải là vấn đề an ninh quốc gia mà là vấn đề kỹ thuật lập pháp thuần túy.
Vì thiếu tiêu chí khách quan để phân định nên hệ quả là cùng một hành vi, cùng một tình huống, có thể dẫn đến xử phạt hành chính ở vụ này và án tù hình sự ở vụ khác.
Khi ranh giới đó không phải trong văn bản luật mà nằm trong tay người áp dụng luật thì bất kỳ ai, dù tuân thủ pháp luật, dù có vị trí xã hội tốt, dù không hề có ý định phạm tội đều có thể trở thành bị can từ một khoảnh khắc bộc phát hoặc một hoàn cảnh không may.
Những điều luật nào trong BLHS hiện hành đang thiếu các thước đo định lượng? Hệ lụy là gì? Và cần làm gì trong lần sửa đổi này để lấp đầy mà không cần chạm đến bất kỳ điều khoản nào liên quan đến nền tảng chính trị hay an ninh quốc gia?
Khi điều luật không có thước đo

Nguồn hình ảnh, Getty Images
Một điều luật hình sự hoạt động đúng chức năng khi trả lời được một câu hỏi đơn giản: "Hành vi A trong tình huống B, với hậu quả C, có cấu thành tội phạm không?".
Dù thẩm phán ở bất cứ địa phương nào, luật sư bào chữa hay người dân bình thường khi đọc điều luật thì câu trả lời phải giống nhau khi đứng trước câu hỏi đó.
Đây là một yêu cầu bắt buộc trong một nhà nước pháp quyền, tính có thể tiên liệu được của điều luật.
Nhưng khi cấu thành tội phạm được xây dựng hoàn toàn bằng tiêu chí định tính như kiểu: "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội", "lợi dụng" quyền tự do, "xâm phạm lợi ích", "gây hậu quả nghiêm trọng"… mà không đi kèm bất kỳ ngưỡng định lượng nào, câu hỏi trên không có câu trả lời khách quan.
"Ảnh hưởng xấu" đến mức nào? Thế nào là lợi dụng? Lợi dụng đến mức nào?, "Xâm phạm lợi ích" đến mức nào?…thì không ai biết, vì luật không nói.
Người duy nhất "biết" là cơ quan tiến hành tố tụng, người nắm quyền quyết định.
Hệ quả là cùng một sự kiện thực tế có thể dẫn đến hai con đường xử lý hoàn toàn khác nhau, xử phạt hành chính hoặc truy tố hình sự, tùy thuộc vào đánh giá chủ quan trong từng vụ việc.
Đây không phải là điều giả định mà là thực tế.
Cụ thể, khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự cũng mô tả các hành vi gây mất trật tự công cộng với các dấu hiệu tương tự như cấu thành tội phạm của Điều 318 BLHS.
Hai văn bản pháp lý trong cùng một hệ thống, cùng điều chỉnh một nhóm hành vi, nhưng một bên phạt tiền hành chính, một bên phạt tù hình sự mà không có tiêu chí định lượng nào trong luật xác định khi nào thì xử phạt vi phạm hành chính, khi nào thì xử lý hình sự.
Khi luật không có thước đo, người áp dụng luật mặc nhiên trở thành người đặt thước đo.
Và khi thước đo nằm trong tay người áp dụng luật, tính bình đẳng trước pháp luật mà Hiến pháp 2013 quy định không còn là nguyên tắc cơ bản của pháp luật mà chỉ là kỳ vọng đang bị thực tiễn phủ nhận.
Điều 318 về Gây rối trật tự công cộng và Điều 331 về Lợi dụng các quyền tự do dân chủ là hai ví dụ tiêu biểu nhất nhưng không phải duy nhất.
Thực tiễn hành nghề tố tụng cho thấy còn nhiều điều luật khác trong BLHS vận hành theo cơ chế tương tự: tiêu chí định tính mơ hồ, không có ngưỡng định lượng, tạo ra khoảng trống cho sự áp dụng không nhất quán.
Đây là lý do tại sao đợt sửa đổi lần này cần tiếp cận vấn đề ở tầm hệ thống, không phải điều chỉnh từng điều khoản đơn lẻ.
Cùng một điều luật, hai kết quả đối nghịch

Nguồn hình ảnh, Getty Images
Để thấy cách lỗ hổng thiết kế này vận hành trong thực tiễn, và đặc biệt là cách có thể dẫn tới những diễn biến tố tụng bất thường, có thể xem xét hai vụ việc tại TP.HCM.
Đầu tiên là vụ gây rối trật tự công cộng tại nhà riêng ở quận Bình Thạnh xảy ra vào tháng 1/2025.
Khi ông ông L.T.D., một giảng viên đại học 50 tuổi, đang cùng gia đình chuẩn bị hành lý cho chuyến du lịch Tết thì một nhóm người đập cửa xông vào nhà, la hét và đòi tiền.
Làm theo hướng dẫn của công an phường "cố gắng giữ chân, chờ công an xuống", cả hai vợ chồng ông bị đánh.
Khi thấy cha mẹ bị hành hung, người con của ông D. chống trả.
Một lát sau, công an xuất hiện, mời tất cả về đồn.
Tại đây, ông làm đơn yêu cầu giám định thương tật và xử lý hành vi cố ý gây thương tích của nhóm người trên.
Tuy nhiên, sau nhiều lần làm việc, ông D. đã rút đơn vì lý do cá nhân.
Nhưng cơ quan công an không đình chỉ vụ án, thay vào đó họ chuyển hướng điều tra sang "Gây rối trật tự công cộng" theo Điều 318 BLHS - một tội danh không thuộc loại khởi tố theo yêu cầu bị hại.
Ở tội danh này, cơ quan điều tra không chỉ khởi tố nhóm côn đồ mà còn khởi tố và bắt giam ông D. và con trai.
Ra tòa, cả hai cha con ông D. bị tuyên án là phạm tội gây rối trật tự công cộng cùng với chính nhóm người đã xông vào nhà họ.
Ngôi nhà của ông được coi là "nơi công cộng" vì một phần tầng trệt được cho thuê kinh doanh trà sữa.
Luật không có tiêu chí nào phân biệt giữa "nhà ở có hoạt động kinh doanh" và "nơi công cộng".
Đây là dấu hiệu của một xu hướng đáng lo ngại: hình sự hóa, vốn là biện pháp cuối cùng, đang bị áp dụng cả khi không thực sự cần thiết về pháp lý lẫn lương tri.
Điều này rất khác với vụ án thứ hai xảy ra tại Phố đi bộ Nguyễn Huệ.
Tháng 2/2025, khi thấy một cặp đôi dắt theo một con chó không rọ mõm, bảo vệ nhắc nhở.
Nhưng người bảo vệ đã bị ông T.C.H. đánh đến bất tỉnh.
Phố đi bộ Nguyễn Huệ là một nơi công cộng thật sự - đúng tâm điểm của những gì Điều 318 BLHS được thiết kế để ngăn chặn.
Thế nhưng, cơ quan điều tra lại áp dụng tội danh "Cố ý gây thương tích" theo Điều 134.
Sau khi nhận tiền bồi thường, bị hại có đơn bãi nại, vụ án lập tức được đình chỉ, ông T.C.H được trả tự do tại tòa.
Sự tương phản này không cần bình luận thêm về mặt đạo lý.
Điều đáng nói là về kỹ thuật lập pháp: tội "Gây rối trật tự công cộng" không được áp dụng trong vụ án có đầy đủ yếu tố "nơi công cộng" và "côn đồ", nhưng lại được vận dụng trong vụ xảy ra tại nhà riêng ông D., khi nạn nhân ban đầu lại bị buộc tội, sau khi chuyển hướng từ tội "Cố ý gây thương tích".
Điều này chỉ có thể xảy ra do thiếu một ngưỡng định lượng trong việc ràng buộc áp dụng.
Khi một điều luật có thể được dùng để tiếp tục vụ án sau khi điều luật ban đầu bị chặn lại (bởi quy định về khởi tố theo yêu cầu bị hại) mà không cần chứng minh thêm bất kỳ yếu tố định lượng nào mới thì đó không còn là sự linh hoạt của hệ thống tố tụng mà là bằng chứng của một điều luật đang hoạt động như một công cụ dự phòng không có giới hạn.
Điều 331 BLHS về "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ" cũng vận hành theo cơ chế tương tự.
Từ "lợi dụng" không được định nghĩa bằng thiệt hại kinh tế thực tế có thể đo lường; hành vi phát ngôn không có ngưỡng phân định với những tranh chấp thông tin có thể giải quyết bằng cơ chế dân sự về bồi thường danh dự, uy tín.
Hệ quả là ranh giới giữa phản biện chính sách hợp pháp và vi phạm pháp luật hình sự phụ thuộc vào diễn giải chủ quan, không phải vào tiêu chí văn bản luật.
Sửa lỗ hổng này để có được sự ổn định lâu dài
Không ít ý kiến cho rằng các quy định hình sự mơ hồ giúp hệ thống linh hoạt và xử lý tình huống phức tạp tốt hơn, nhưng cách nhìn này bỏ qua những cái giá mà hệ thống phải trả theo thời gian và không thể thấy ngay lập tức.
Đầu tiên, lòng tin là tài sản chiến lược, không phải vô hạn.
Khi người dân, đặc biệt là tầng lớp trí thức, doanh nhân, cán bộ cơ sở thấy rằng làm đúng theo hướng dẫn của chính quyền vẫn có thể dẫn đến vòng tố tụng hình sự, phản ứng tất yếu không phải là tuân thủ nhiều hơn mà là xa lánh.
Họ sẽ không trình báo vụ việc, không phối hợp điều tra, cũng không tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.
Một hệ thống trừng phạt sự hợp tác rốt cuộc sẽ tự gánh lấy hệ quả do chính nó tạo ra: một xã hội thụ động.
Thứ đến, việc triệt tiêu tư duy phản biện là triệt tiêu nguồn thông tin từ dưới lên.
Khi ranh giới giữa phản biện hợp pháp và vi phạm Điều 331 trở nên mơ hồ, phản ứng phổ biến nhất không phải là phát ngôn sai, mà là sự im lặng – vì họ không biết đâu là giới hạn an toàn.
Hệ quả là, kênh thông tin từ dưới lên - yếu tố quan trọng giúp phát hiện sớm và điều chỉnh chính sách - bị tắc nghẽn.
Sự im lặng xã hội là môi trường lý tưởng nhất cho tham nhũng và trì trệ tồn tại và phát triển mà không bị phát hiện.
Bên cạnh đó, một vấn đề khác cũng xuất hiện: hình sự hóa quá đà tự tạo ra lực lượng đối kháng có trình độ.
Khi những người có học vấn bị cuốn vào tố tụng hình sự trong các vụ việc lẽ ra không cần đến mức can thiệp đó, họ thường rời hệ thống với lý lịch bị tổn hại và tâm thế bất mãn.
Chưa kể, chính những bản án thiếu cơ sở định lượng đã trở thành vũ khí để giới chỉ trích công kích hệ thống tư pháp Việt Nam.
Đó là chưa kể hệ lụy truyền sang thế hệ sau là mối đe dọa âm thầm nhất.
Án tích từ những vụ việc hình sự hóa mức độ nhẹ không chỉ đeo bám cá nhân suốt đời, mà còn khép lại cánh cửa vào công an, quân đội, tòa án đối với con cái họ.
Về dài hạn, điều đó tạo ra một tầng lớp bị loại khỏi các thiết chế nhà nước, tích tụ sự bất mãn âm thầm qua nhiều thế hệ - khó thấy, nhưng dai dẳng và sâu sắc.
Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, là vấn đề ngân sách và hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Mỗi vụ án hình sự hóa không cần thiết đều ngốn ngân sách cho điều tra, truy tố, xét xử và giam giữ, trong khi lẽ ra nguồn lực đó phải được dồn cho các mối đe dọa thực sự như tham nhũng quy mô lớn, tội phạm xuyên quốc gia hay lừa đảo công nghệ cao.
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong các văn kiện của Đảng và Hiến pháp đòi hỏi pháp luật phải được áp dụng nghiêm minh, thống nhất và bình đẳng.
Nhưng khi cùng một điều luật cho ra những kết quả trái ngược ở các vụ việc tương tự, thì nguyên tắc đó đã bị chính thực tiễn làm suy yếu.
Sự sai lệch này không chỉ nằm ở con người áp dụng, mà còn ở những khoảng trống thiết kế khiến sự tùy nghi có thể xảy ra.
Một trong những nội dung cốt lõi của mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là pháp luật phải có thể tiên liệu được, người dân đọc điều luật và biết mình đang ở đâu.
Điều này không thể xảy ra khi điều luật chỉ có tiêu chí định tính mà thiếu ngưỡng định lượng.
Hệ thống pháp luật Việt Nam không thiếu công cụ phi hình sự.
Vấn đề nằm ở chỗ thiếu những nguyên tắc phân định rõ ràng, mang tính bắt buộc, để xác định khi nào nên và khi nào không nên dùng đến hình sự.
Nói cách khác, tính "cần thiết" phải hạn chế quyền con người, quyền công dân mà Điều 14 Hiến pháp 2013 đặt ra chưa có tiêu chí rõ ràng.
Để hiện thực hóa yêu cầu "cần thiết" trong Điều 14 Hiến pháp, lần sửa đổi BLHS này cần hướng tới việc định lượng hóa cấu thành tội phạm và thiết lập cơ chế tiền kiểm hành chính bắt buộc.
Toàn bộ BLHS cần được rà soát để loại bỏ các quy định chỉ dựa trên tiêu chí định tính. Với mỗi tội danh, phải xác lập ngưỡng định lượng rõ ràng, mang tính điều kiện bắt buộc của cấu thành tội phạm.
Khi hành vi không đạt ngưỡng định lượng, cơ quan tố tụng không có cơ sở để khởi tố hình sự, vụ việc phải được chuyển sang xử lý hành chính hoặc dân sự.
Với các hành vi đã được điều chỉnh bằng pháp luật hành chính, chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự khi đã có quyết định xử phạt hành chính về cùng hành vi mà người vi phạm vẫn tái phạm cố ý.
Hình sự chỉ nên là lựa chọn cuối cùng, khi các biện pháp ít xâm phạm hơn đã được áp dụng nhưng không hiệu quả.
Sửa lỗ hổng này không động chạm nền tảng thể chế, nhưng nếu không sửa, cái giá sẽ tiếp tục được trả bằng sự suy giảm niềm tin vào hệ thống tư pháp và hiệu lực của pháp luật.
Luật mạnh là luật ít khi phải được sử dụng
Thu hẹp phạm vi hình sự không đồng nghĩa với việc làm suy yếu hệ thống. Một hệ thống hình sự mạnh là hệ thống can thiệp ít hơn nhưng mỗi lần can thiệp đều chính đáng, nhất quán và không gây nghi ngờ.
Điều này chỉ có thể xảy ra khi tiêu chí để can thiệp được xác định rõ ràng, không phải bằng những từ ngữ mà mỗi người có thể hiểu theo cách khác nhau.
Đợt sửa đổi Bộ luật Hình sự lần này là cơ hội để thiết lập những ngưỡng định lượng cụ thể, cũng như các thủ tục phân định dễ hiểu nhằm mục đích làm cho luật trở nên đáng tin cậy hơn.
Không phải để dễ dãi với tội phạm, mà để nghiêm khắc đúng nơi với tội phạm thực sự, và trả lại cho các quan hệ xã hội thông thường những công cụ xử lý phù hợp.
Sức mạnh của pháp luật không nằm ở việc có thể áp dụng ở mọi nơi, mà ở chỗ mỗi lần áp dụng đều không thể bị nghi ngờ là sai chỗ.
* Luật sư Phùng Thanh Sơn là Giám đốc Công ty Luật TNHH Thế Giới Luật Pháp tại TP HCM


















